
Khoản 1 Điều 84 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 cho phép các bên sửa đổi trong thời gian hợp đồng còn hiệu lực và yêu cầu lập văn bản sửa đổi. Khoản 1 Điều 10 Nghị định số 210/2026/NĐ-CP xác định thời gian có hiệu lực kéo dài đến khi các bên hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ, kể cả công việc phát sinh và thủ tục thanh lý nếu có, hoặc đến khi hợp đồng bị chấm dứt theo quy định của pháp luật.
Theo đó, khi đã qua mốc hoàn thành công việc nhưng hợp đồng vẫn còn hiệu lực, các bên được thỏa thuận sửa đổi thời gian, khối lượng, giá và nội dung khác trên căn cứ pháp luật, hợp đồng. Văn bản sửa đổi phải phản ánh đúng nguyên nhân chậm và cách xử lý trách nhiệm đã phát sinh. Các bên ghi ngày ký thực tế để bảo đảm hồ sơ thể hiện đúng quá trình thực hiện.
Khi hợp đồng đã chấm dứt hoặc hết hiệu lực theo điều khoản hợp pháp, các bên xử lý nghĩa vụ còn lại bằng thỏa thuận thanh toán, quyết toán, giải quyết tranh chấp hoặc giao dịch mới theo luật áp dụng. Vì vậy, trước khi ký văn bản sửa đổi, các bên xác định tình trạng hiệu lực từ điều khoản hợp đồng và sự kiện chấm dứt, đồng thời phân biệt mốc hoàn thành công việc với mốc kết thúc quan hệ hợp đồng.
Các quy định trên áp dụng cho hợp đồng thuộc chế độ Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 và Nghị định số 210/2026/NĐ-CP. Theo khoản 7 Điều 95 của Luật, hợp đồng ký trước ngày 01/7/2026 tiếp tục thực hiện theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13; trường hợp xảy ra bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản thì được áp dụng Luật năm 2025. Điều 33 của Nghị định giữ chế độ cũ đối với hợp đồng đầu tư công, PPP đang thực hiện, trừ ngoại lệ nêu trên; với dự án khác, các bên có thể thỏa thuận áp dụng Nghị định phù hợp pháp luật, còn khi không đạt thỏa thuận thì áp dụng pháp luật tại thời điểm giao kết.
Căn cứ pháp luật
Khoản 1 Điều 84 Luật Xây dựng 135/2025/QH15; khoản 1, 2 Điều 10 Nghị định 210/2026/NĐ-CP.
Khoản 7 Điều 95 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15; Điều 33 Nghị định số 210/2026/NĐ-CP về chuyển tiếp.

