Hỏi đáp về Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15

Sử dụng bảo hiểm bảo lãnh để bảo đảm thực hiện hợp đồng

Minh họa hồ sơ hợp đồng xây dựng, bản vẽ và mô hình công trình.

Đối với hợp đồng thuộc phạm vi áp dụng Luật Đấu thầu, khoản 1 Điều 68 Luật số 22/2023/QH15 cho phép nhà thầu sử dụng giấy chứng nhận bảo hiểm bảo lãnh để bảo đảm thực hiện hợp đồng, bên cạnh biện pháp đặt cọc và thư bảo lãnh của tổ chức tín dụng trong nước hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam. Doanh nghiệp phát hành chứng nhận phải là doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trong nước hoặc chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam.

Trước khi chấp nhận chứng nhận, bên giao thầu kiểm tra số tiền, đồng tiền, người thụ hưởng, thời hạn, điều kiện yêu cầu thanh toán và tính xác thực của văn bản. Đối với dự án đầu tư công, dự án PPP, mức bảo đảm, thời hạn và điều kiện hoàn trả còn thực hiện theo Điều 13 Nghị định số 210/2026/NĐ-CP.

Giấy chứng nhận bảo hiểm bảo lãnh xác định nghĩa vụ mà doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bảo đảm. Vì vậy, chứng nhận chỉ ghi bảo đảm thực hiện hợp đồng sẽ không bao phủ nghĩa vụ hoàn trả tạm ứng hoặc bảo hành nếu nội dung cam kết không có những nghĩa vụ này. Đối với dự án đầu tư công, PPP, khoản 3 Điều 12 Nghị định số 210/2026/NĐ-CP yêu cầu bảo lãnh tạm ứng cho khoản tạm ứng lớn hơn 01 tỷ đồng, trừ hợp đồng theo hình thức tự thực hiện, kể cả cộng đồng dân cư thực hiện theo chương trình mục tiêu; bảo lãnh phải tương ứng với giá trị, loại tiền tạm ứng và có giá trị cho đến khi bên giao thầu thu hồi hết tiền. Quyền sử dụng bảo hiểm bảo lãnh tại Điều 68 chỉ trả lời về bảo đảm thực hiện hợp đồng, nên không thể dùng quy định này làm căn cứ thay thế các yêu cầu về bảo lãnh tạm ứng.

Các quy định của Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 và Nghị định số 210/2026/NĐ-CP nêu trong bài được trình bày cho hợp đồng thuộc chế độ pháp luật mới. Theo khoản 7 Điều 95 Luật Xây dựng, hợp đồng ký trước ngày 01/7/2026 tiếp tục thực hiện theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 và được áp dụng Luật năm 2025 khi xảy ra bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản; việc áp dụng Nghị định số 210 cho hợp đồng đang thực hiện còn tuân theo Điều 33 của Nghị định.

Căn cứ pháp luật

Khoản 1 Điều 68 Luật Đấu thầu 22/2023/QH15; Điều 13 Nghị định 210/2026/NĐ-CP. Các quy định sửa đổi có liên quan nằm tại Điều 4 Luật 57/2024/QH15 và Điều 1 Luật 90/2025/QH15.

Khoản 3 Điều 12 Nghị định số 210/2026/NĐ-CP; khoản 36 Điều 1 Luật số 90/2025/QH15 (sửa điểm c khoản 2 Điều 68, không sửa ba hình thức bảo đảm tại khoản 1).

Khoản 7 Điều 95 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 và Điều 33 Nghị định số 210/2026/NĐ-CP về chuyển tiếp.