
Trong hợp đồng, nếu một điều khoản chỉ quy định bên chậm thanh toán phải chịu lãi theo ngân hàng, thì sẽ buộc các bên giải quyết ba câu hỏi: ngân hàng nào, loại lãi suất nào và lấy mức công bố vào ngày nào. Khi khoản nợ kéo dài qua nhiều kỳ, kết quả trả lời cho mỗi câu hỏi sẽ dẫn tới những kết quả và hệ quả pháp lý khác nhau. Khi thỏa thuận lãi chậm trả cố định hoặc tham chiếu, người soạn hợp đồng phải xác định được nguồn lãi suất và cách thay đổi nguồn đó ngay từ thời điểm thương lượng.
Giả định chủ đầu tư và nhà thầu đang xem xét hai phương án cho cùng một khoản tiền đến hạn: mức cố định 10%/năm hoặc mức tham chiếu thay đổi theo từng thời kỳ. Vấn đề cần quyết định là bên nào chịu rủi ro biến động lãi suất, bằng tài liệu nào hai bên kiểm tra được phép tính và cơ chế nào áp dụng khi nguồn tham chiếu ngừng công bố. Những nội dung này phải thống nhất với ngày đến hạn và phương thức thanh toán của hợp đồng.
1. Căn cứ lựa chọn pháp luật điều chỉnh lãi chậm trả
Khoản 5 Điều 28 Nghị định 210/2026/NĐ-CP dành cho các bên quyền thỏa thuận về lãi do chậm thanh toán. Khi các bên không có thỏa thuận, điều khoản này sử dụng lãi suất nợ quá hạn do ngân hàng thương mại nơi bên nhận thầu mở tài khoản thanh toán công bố theo thời kỳ chậm trả. Do đó, hợp đồng thuộc phạm vi quy định này có cơ chế xác định lãi ngay cả khi văn bản ký kết bỏ trống tỷ lệ. [S02]
Đối với hợp đồng thuộc Điều 306 Luật Thương mại, Điều 11 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn Tòa án xác định mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của ít nhất ba ngân hàng thương mại có trụ sở, chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án giải quyết vụ án có trụ sở, tại thời điểm thanh toán là thời điểm xét xử sơ thẩm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Đối với nghĩa vụ thuộc Điều 357 Bộ luật Dân sự, khoản 2 của điều luật dẫn đến giới hạn và mức lãi tại Điều 468. Như vậy, mỗi cơ chế xác định lãi có điều kiện áp dụng riêng. Chủ thể đều là doanh nghiệp vẫn phải xác định nội dung giao dịch và quan hệ giữa pháp luật chuyên ngành với quy định bổ sung để lựa chọn cơ chế tính. [S03] [S04] [S05]
Khoản 7 Điều 95 Luật Xây dựng 2025 và Điều 33 Nghị định 210 quy định việc chuyển tiếp đối với hợp đồng ký trước ngày 01/7/2026. Khi hợp đồng tiếp tục thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định 37/2015/NĐ-CP, khoản 2 Điều 43 của nghị định này là căn cứ xác định trách nhiệm do chậm thanh toán. Đối với phụ lục sửa đổi thỏa thuận về lãi, pháp luật áp dụng phụ thuộc ngày giao kết, nội dung sửa đổi và điều kiện chuyển tiếp. Ngày lập bảng tính chỉ xác định thời điểm tổng hợp số liệu của người yêu cầu. [S01] [S02] [S07]
2. Tỷ lệ và đơn vị tính của mức lãi cố định
Với mức cố định, hai bên xác định trước tỷ lệ áp dụng trong thời gian chậm trả. Điều khoản phải ghi tỷ lệ theo năm, đồng tiền tính lãi, số ngày quy đổi và khoản tiền làm cơ sở. Một tỷ lệ 0,05% mỗi ngày có tác động khác đáng kể so với 0,05% mỗi tháng. Việc ghi thiếu đơn vị làm tăng tranh luận ngay cả khi hai bên cùng hiểu rằng có nghĩa vụ trả lãi.
Mức cố định giúp nhà thầu lập kế hoạch dòng tiền và giúp chủ đầu tư tính chi phí trì hoãn. Đổi lại, bên nhận tiền chịu rủi ro mức lãi thỏa thuận thấp hơn chi phí vốn phát sinh; bên trả tiền chịu rủi ro thị trường giảm nhưng nghĩa vụ vẫn giữ nguyên. Đây là hệ quả kinh tế của phương án thương lượng. Khả năng yêu cầu thêm một khoản thiệt hại khác phải dựa trên căn cứ và chứng cứ riêng, đồng thời xử lý phần lợi ích đã được bù đắp qua lãi.
Các bên còn phải thống nhất ngày bắt đầu và ngày kết thúc tính lãi. Mẫu dưới đây lựa chọn khoảng tính từ ngày liền sau ngày đến hạn đến hết ngày liền trước ngày tiền được ghi có vào tài khoản nhận. Các bên có thể thỏa thuận hợp lệ một quy ước khác. Khi đổi quy ước, người soạn phải sửa đồng thời công thức và bảng minh họa để mỗi ngày chỉ được tính một lần đối với cùng khoản gốc.
3. Nguồn và thời điểm áp dụng lãi suất tham chiếu
Một điều khoản tham chiếu đầy đủ cần chỉ ra tên ngân hàng, loại lãi suất, đồng tiền, kỳ hạn hoặc nhóm khoản vay dùng làm căn cứ và ngày bắt đầu áp dụng mỗi lần thay đổi. Cụm lãi suất ngân hàng hiện hành thường thiếu các thông tin này. Ngân hàng có nhiều sản phẩm và nhiều nhóm khách hàng; lãi suất ưu đãi của một khoản vay riêng cũng khác mức công bố dùng làm chỉ số tham chiếu.
Hai bên có thể chọn mức tham chiếu cộng một biên độ, nhưng phải ghi biên độ bằng điểm phần trăm. Chẳng hạn, mức tham chiếu 9%/năm cộng 2 điểm phần trăm cho kết quả 11%/năm. Cách diễn đạt cộng thêm 2% dễ dẫn tới phép nhân 9% × 102%, cho kết quả khác. Hợp đồng nên kèm một ví dụ để xác nhận cùng cách hiểu.
Khi ngân hàng đổi tên, sáp nhập hoặc ngừng công bố chỉ số, bên nhận tiền cần thông báo tài liệu thay thế. Quyền đơn phương chọn ngân hàng có mức cao nhất sẽ làm cơ chế tham chiếu mất khả năng dự tính. Phương án an toàn hơn là quy định trước nguồn thay thế, phạm vi điều chỉnh trong tương lai và một mức tạm tính có cơ chế đối chiếu chênh lệch. Mức tạm tính phục vụ thực hiện hợp đồng; kết quả cuối cùng vẫn chịu điều khoản và pháp luật áp dụng.
4. So sánh hai phương án trên cùng khoản nợ
Tình huống sau sử dụng hoàn toàn số liệu giả định: gốc đến hạn 1 tỷ đồng, chậm 60 ngày, không có khoản trả bớt, một năm quy đổi 365 ngày. Phương án cố định là 10%/năm. Phương án tham chiếu là 9% trong 30 ngày đầu và 12% trong 30 ngày sau. Các tỷ lệ này chỉ phục vụ phép so sánh, không phản ánh công bố thực tế của ngân hàng.
| Phương án | Khoảng tính | Tiền lãi trước làm tròn |
|---|---|---|
| Cố định 10%/năm | 1 tỷ × 10% × 60/365 | 16.438.356,16 đồng |
| Tham chiếu kỳ đầu | 1 tỷ × 9% × 30/365 | 7.397.260,27 đồng |
| Tham chiếu kỳ sau | 1 tỷ × 12% × 30/365 | 9.863.013,70 đồng |
| Tổng phương án tham chiếu | Cộng hai khoảng | 17.260.273,97 đồng |
Trong giả định này, phương án tham chiếu tạo ra số lãi cao hơn 821.917,81 đồng. Nếu mức lãi của kỳ sau giảm xuống 8%/năm, phương án tham chiếu sẽ có kết quả thấp hơn phương án cố định. Do đó, lợi ích của từng lựa chọn phụ thuộc diễn biến mức lãi trong thời gian chậm trả; số liệu của bảng chỉ chứng minh kết quả ứng với các giả định đã nêu.
Để đối chiếu mức tham chiếu cho từng khoảng tính, nhà thầu cần lưu bản công bố, còn chủ đầu tư cần kiểm tra tài liệu chứng minh ngày thay đổi mức đó. Khi hai bên còn bất đồng về một mức, bảng đối chiếu nên giữ riêng phần chênh lệch và phần đã thống nhất để việc thanh toán khoản rõ căn cứ tiếp tục được thực hiện.
5. Hai phương án điều khoản để lựa chọn
Mẫu tự soạn — Điều khoản lãi chậm trả theo mức cố định
Bên giao thầu trả lãi đối với phần tiền thanh toán theo Điều […] [điều khoản thanh toán] đã đến hạn và còn chưa trả, với mức […] [tỷ lệ phần trăm]/năm. Số tiền tính lãi được xác định sau khi trừ các khoản đã thanh toán và khoản giảm trừ có căn cứ; tiền lãi phát sinh được theo dõi riêng.
Lãi được tính theo số ngày thực tế trên cơ sở 365 ngày/năm, từ ngày liền sau ngày đến hạn đến hết ngày liền trước ngày khoản tiền được ghi có vào tài khoản […] [tài khoản nhận]. Mỗi lần trả bớt làm thay đổi dư nợ từ ngày ghi có, theo thứ tự phân bổ tại Điều […] [điều khoản phân bổ].
Bảng tính phải thể hiện số tiền gốc, ngày đến hạn, ngày nhận tiền, số ngày tính lãi và tổng lãi. Việc lập hoặc gửi bảng tính nhằm đối chiếu nghĩa vụ; các điều kiện phát sinh nghĩa vụ được xác định theo hợp đồng và pháp luật áp dụng. Các bên thực hiện phần điều khoản trong giới hạn mà pháp luật điều chỉnh hợp đồng cho phép.
Mẫu tự soạn — Điều khoản lãi chậm trả theo lãi suất tham chiếu
Mức lãi chậm thanh toán bằng […] [tên đầy đủ chỉ số lãi suất] do […] [ngân hàng, đơn vị công bố] công bố cho […] [đồng tiền, kỳ hạn hoặc nhóm sản phẩm], cộng […] [số điểm phần trăm]/năm. Mỗi mức áp dụng từ ngày có hiệu lực ghi trong văn bản công bố đến trước ngày mức tiếp theo có hiệu lực.
Bên yêu cầu thanh toán lãi gửi kèm bản công bố và bảng chia thời gian. Việc thay tài khoản nhận tiền chỉ làm thay nguồn tham chiếu nếu hai bên có văn bản thống nhất nêu rõ ngày áp dụng; các khoảng đã phát sinh tiếp tục dùng nguồn đã thỏa thuận.
Nếu nguồn trên ngừng công bố, hai bên dùng nguồn dự phòng […] [nguồn và loại lãi suất] từ ngày […] [ngày xác định theo cơ chế thay thế]. Trong thời gian xác minh nguồn dự phòng, các bên tạm đối chiếu theo mức cuối cùng còn được công bố và điều chỉnh chênh lệch sau khi thống nhất hoặc có quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp. Quy ước ngày, mẫu số năm và phân bổ tiền thanh toán thực hiện theo Điều […] [điều khoản công thức].
Hai mẫu quy định hai phương án lựa chọn khác nhau. Trước khi ký, các bên phải chọn một phương án và bỏ phương án còn lại. Đối với phương án tham chiếu, người soạn phải ghi đủ tên chỉ số, ngân hàng công bố và tài liệu nhận diện nguồn. Việc xác định được các thông tin này là điều kiện để hai bên tính lãi theo cùng cơ sở.
6. Kiểm tra điều khoản cùng hồ sơ thanh toán
Để kiểm tra điều khoản cùng hồ sơ thanh toán, bộ phận hợp đồng đối chiếu mức lãi với lịch thanh toán, thời gian kiểm tra hồ sơ và các quyền gia hạn; trên cùng cơ sở đó, bộ phận tài chính thử ít nhất ba trường hợp: chưa thanh toán, thanh toán một phần và thay đổi lãi suất giữa kỳ. Người có thẩm quyền ký phụ lục phải chấp thuận cả nguồn lãi, biên độ và phương thức xử lý nguồn thay thế.
Trong hợp đồng nhiều đồng tiền, mỗi khoản nợ nên có dòng tính riêng. Nếu các bên muốn quy đổi sang một đồng tiền để thanh toán, hợp đồng cần thêm ngày tỷ giá, nguồn tỷ giá và cách xử lý phí. Việc đổi đồng tiền trên bảng kế toán của một bên chỉ phục vụ quản trị nội bộ khi chưa có căn cứ sửa nghĩa vụ thanh toán.
Đối với gói thầu thuộc chế độ kiểm soát vốn hoặc đấu thầu, thỏa thuận lãi mới có tác động đến giá trị nghĩa vụ và thẩm quyền phê duyệt, nên người phê duyệt còn phải kiểm tra giới hạn sửa điều kiện hợp đồng. Hồ sơ nên lưu lý do sửa, căn cứ áp dụng và bản cuối có chữ ký, để bảng lãi về sau có thể truy về đúng văn bản.
7. Kết luận
Điều khoản lãi có giá trị thực hành khi hai bên cùng tính ra một kết quả từ cùng bộ dữ liệu. Để đạt mục tiêu đó, người soạn phải chốt chế độ pháp luật, lựa chọn mức cố định hoặc nguồn tham chiếu, quy định ngày tính và gắn việc trả bớt với số dư thực tế. Trước khi ký, pháp chế và tài chính nên cùng ký phiếu kiểm tra công thức, kèm ví dụ đã tính thử và tài liệu công bố lãi suất được lựa chọn.
Mã biểu mẫu của bài: SP-K03-H01.
Nguồn pháp luật và tài liệu tra cứu
[S01] Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 ngày 10/12/2025; hiệu lực chính từ 01/7/2026. Bản văn chính thức
[S02] Nghị định số 210/2026/NĐ-CP ngày 15/6/2026 về hợp đồng xây dựng; hiệu lực từ 01/7/2026. Bản ký chính thức
[S03] Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015; hiệu lực từ 01/01/2017. Toàn văn trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật
[S04] Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005; hiệu lực từ 01/01/2006. Phạm vi vận dụng được xác định trong bài. Thông tin và văn bản chính thức · Toàn văn để đối chiếu điều khoản
[S05] Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019; hiệu lực từ 15/3/2019 theo Điều 14; đính chính bằng Thông báo số 15/TB-HĐTP ngày 05/6/2019. Bản Công báo chính thức · Thông báo đính chính
[S07] Nghị định số 37/2015/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 50/2021/NĐ-CP và Điều 9 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP. Nguồn lịch sử chỉ dùng cho nhánh chuyển tiếp được phân tích trong bài. Văn bản gốc và thông tin liên quan

