
Nhà thầu có thể chấp nhận giảm một phần lãi để đổi lấy việc chủ đầu tư thanh toán ngay khoản gốc. Rủi ro thường xuất hiện khi văn bản ghi miễn lãi ngay từ ngày ký, còn nghĩa vụ trả tiền thực hiện sau đó. Nếu chủ đầu tư trả thiếu sau khi khoản lãi đã được miễn, nhà thầu phải có căn cứ để tiếp tục yêu cầu khoản lãi đó. Thỏa thuận ghi rõ điều kiện miễn lãi và hệ quả khi chủ đầu tư trả thiếu sẽ giúp các bên xác định phạm vi quyền yêu cầu còn lại.
Tình huống trong bài giả định khoản gốc 1 tỷ đồng và lãi đã được hai bên chốt là 100 triệu đồng. Nhà thầu đồng ý miễn 60 triệu đồng lãi nếu nhận đủ 1,04 tỷ đồng đúng hạn. Hai bên cần lựa chọn liệu việc trả thiếu sẽ làm mất toàn bộ ưu đãi hay chỉ làm giảm ưu đãi theo một công thức đã xác định.
1. Căn cứ và phạm vi miễn nghĩa vụ trả lãi
Điều 376 Bộ luật Dân sự điều chỉnh việc miễn thực hiện nghĩa vụ. Điều 120 cho phép các bên xác lập giao dịch có điều kiện và quy định cách xử lý hành vi cố ý cản trở hoặc thúc đẩy điều kiện. Từ hai căn cứ này, các bên có thể thỏa thuận rằng ưu đãi miễn một phần lãi chỉ phát sinh sau khi bên trả hoàn thành sự kiện thanh toán đã ghi. [S03]
Văn bản phải nhận diện số lãi được miễn. Nếu 100 triệu đồng mới là yêu cầu một phía, việc ghi miễn 60 triệu đồng cần nêu rõ cơ sở dàn xếp để tránh biến con số tranh luận thành số hai bên đã xác nhận. Trong tình huống của bài, 100 triệu đồng đã được chốt, nên phép so sánh tập trung vào điều kiện miễn và số dư sau thực hiện.
Phần lãi phát sinh sau ngày chốt cũng cần có quy tắc riêng. Hai bên có thể tạm dừng tính lãi trong thời gian ưu đãi, tiếp tục tính nhưng miễn khi trả đúng, hoặc giữ đầy đủ khoản phát sinh. Vì mỗi phương án ảnh hưởng khác đến tổng tiền, mẫu sử dụng dưới đây giữ một giả định cụ thể để làm rõ phép tính chính: hai bên đã thỏa thuận không tính thêm lãi trong thời gian từ ngày ký đến hạn ưu đãi.
2. Chứng từ xác định việc hoàn thành điều kiện thanh toán
Điều kiện nên gắn với tiền thực tế được ghi có vào tài khoản nhận, số tiền ròng và hạn cuối. Một lệnh chuyển tiền chưa thực hiện hoặc lời hứa thu xếp vốn chưa bảo đảm nhà thầu đã nhận đủ. Nếu các bên chấp nhận thời điểm phát lệnh làm mốc, họ phải ghi rõ loại chứng từ, trường hợp ngân hàng từ chối và cách phân bổ rủi ro.
Người soạn còn phải xác định bên chịu phí, bởi nếu mục tiêu là nhận đủ 1,04 tỷ đồng nhưng phí chuyển tiền bị trừ vào số đến tài khoản, điều kiện đủ tiền có thể phát sinh tranh luận. Mẫu nên ghi số tiền phải đến tài khoản và trách nhiệm bù phần phí thiếu, cùng thời hạn khắc phục nếu các bên chấp nhận.
Một hạn ưu đãi theo giờ phải có múi giờ và cách xử lý ngày ngân hàng nghỉ. Khi hợp đồng dùng ngày làm việc, bộ phận tài chính phải tính lại hạn theo chính định nghĩa trong hợp đồng. Đối với thanh toán nhiều đợt, phụ lục theo dõi phải phân biệt số tiền cộng dồn và ngày nhận từng đợt, vì chỉ các khoản vào trước hạn mới được tính hưởng ưu đãi theo ví dụ này.
3. Hệ quả của việc trả thiếu đối với quyền được miễn lãi
Với cơ chế miễn trọn gói, quyền miễn 60 triệu đồng chỉ phát sinh khi nhà thầu nhận đủ 1,04 tỷ đồng trong hạn. Nếu chỉ nhận 70%, tức 728 triệu đồng, khoản miễn chưa phát sinh. Khi thỏa thuận ưu tiên gốc, dư nợ gồm 272 triệu đồng gốc và 100 triệu đồng lãi đã chốt, tổng cộng 372 triệu đồng. Khi thỏa thuận thu lãi đã chốt trước ngay từ lần nhận tiền, 100 triệu đồng trả lãi và 628 triệu đồng trả gốc; dư nợ còn 372 triệu đồng gốc.
Tổng nghĩa vụ còn lại tại hạn ưu đãi bằng nhau trong hai phương án miễn trọn gói, nhưng số gốc chịu lãi cho thời gian tiếp theo khác nhau. Cả hai phương án đều giữ giả định đã nêu: các bên thỏa thuận ngừng tính thêm lãi trong thời gian ưu đãi. Do đó, việc so sánh ở đây chưa bao gồm lãi mới phát sinh sau hạn.
Với cơ chế theo tỷ lệ, các bên có thể chọn mức miễn bằng 60 triệu đồng nhân tỷ lệ tiền thực nhận đúng hạn trên 1,04 tỷ đồng, tối đa 60 triệu đồng. Ở mức thu 728 triệu đồng, tỷ lệ là 70%, số được miễn là 42 triệu đồng. Khi vẫn phân bổ tiền nhận vào gốc trước, tổng còn lại là 272 triệu đồng gốc cộng 58 triệu đồng lãi, bằng 330 triệu đồng. Công thức này chỉ áp dụng khi các bên đã thỏa thuận hợp lệ về cách giảm theo tỷ lệ.
| Sự kiện tại hạn ưu đãi | Miễn trọn gói; thu lãi trước | Miễn theo tỷ lệ; trả gốc trước |
|---|---|---|
| Nhận đủ 1,04 tỷ đồng đúng hạn | Gốc trả đủ 1 tỷ; trả 40 triệu lãi; miễn 60 triệu; hết nợ | Gốc trả đủ 1 tỷ; trả 40 triệu lãi; miễn 60 triệu; hết nợ |
| Nhận 728 triệu đồng đúng hạn | Trả 100 triệu lãi, 628 triệu gốc; còn 372 triệu gốc; chưa phát sinh miễn | Miễn 42 triệu lãi; còn 272 triệu gốc và 58 triệu lãi; tổng 330 triệu |
| Nhận đủ 1,04 tỷ đồng sau hạn; trước hạn chưa nhận tiền | Chưa phát sinh miễn; trả 100 triệu lãi, 940 triệu gốc; còn 60 triệu gốc và lãi sau hạn nếu có | Mức miễn tại hạn bằng 0; còn 60 triệu lãi cũ và lãi sau hạn nếu có, sau khi trừ đủ 1,04 tỷ vào gốc và lãi |
Bảng phân biệt cơ chế miễn với thứ tự phân bổ. Miễn trọn gói vẫn cho phép lựa chọn ưu tiên gốc hoặc ưu tiên lãi đã chốt; miễn theo tỷ lệ trong ví dụ sử dụng thứ tự ưu tiên gốc. Khi ký, hai bên chọn một tổ hợp và ghi rõ điều kiện. Đối với cơ chế theo tỷ lệ, hai bên chốt mức giảm tại hạn cuối bằng bảng kèm chứng từ để các khoản trả sau hạn được theo dõi đúng phạm vi.
4. Phân bổ tiền khi hoàn thành hoặc vi phạm điều kiện miễn lãi
Nếu chọn thu lãi đã chốt trước, các bên áp dụng thứ tự đó ngay tại từng lần nhận tiền. Với khoản nhận đủ 1,04 tỷ đồng đúng hạn, bảng ban đầu ghi 100 triệu đồng vào lãi và 940 triệu đồng vào gốc. Khi điều kiện miễn 60 triệu đồng hoàn thành, các bên chuyển 60 triệu đồng đã phân bổ vào lãi sang gốc: kết quả cuối cùng là 1 tỷ đồng trả gốc, 40 triệu đồng trả lãi và 60 triệu đồng lãi được miễn. Toàn bộ nghĩa vụ trong phạm vi dàn xếp được thực hiện xong.
Nếu chỉ nhận 728 triệu đồng trong hạn, điều kiện miễn trọn gói chưa hoàn thành. Theo thứ tự thu lãi đã chốt trước đã lựa chọn từ đầu, 100 triệu đồng được dùng trả lãi và 628 triệu đồng trả gốc; 372 triệu đồng gốc còn lại là cơ sở xem xét lãi sau hạn ưu đãi. Cơ chế này giữ lịch sử phân bổ đã ghi nhận. Bên nhận tiền chỉ có quyền áp dụng khi hai bên đã thỏa thuận; việc đổi thứ tự sau hạn để tăng lại gốc hoặc tính bù lãi cho thời gian ưu đãi phải có căn cứ riêng. [S03]
Phạm vi đó cần loại trừ hoặc ghi rõ khoản đang xử lý riêng, chẳng hạn tiền bảo hành chưa đến hạn hoặc giá trị công việc phát sinh. Một câu xác nhận hoàn tất mọi nghĩa vụ sẽ vượt khỏi mục tiêu miễn lãi của khoản nợ đang thương lượng nếu các bên còn quyền khác chưa xử lý.
5. Mẫu thỏa thuận miễn lãi khi thanh toán đủ và đúng hạn
Mẫu tự soạn — Thỏa thuận miễn lãi có điều kiện và phân bổ tiền thanh toán
Hai bên xác nhận tại ngày […] [ngày chốt], khoản gốc còn phải trả là […] [số tiền gốc G] đồng và lãi đã phát sinh, đã được xác định hợp lệ là […] [số tiền lãi I] đồng theo […] [bảng đối chiếu và căn cứ]. Từ ngày ký đến hết ngày […] [hạn ưu đãi], hai bên thống nhất ngừng tính thêm lãi trên khoản gốc thuộc phạm vi này. Lãi đã chốt được theo dõi riêng.
Bên có quyền đồng ý miễn […] [số tiền lãi M được miễn khi đủ điều kiện, không vượt lãi I] đồng khi đã nhận đủ […] [số tiền phải nhận, bằng G cộng I trừ M] đồng vào tài khoản […] [tài khoản nhận] chậm nhất lúc […] [giờ, ngày và múi giờ]. Tại mỗi lần nhận tiền, các bên phân bổ vào lãi đã chốt còn chưa trả trước, phần còn lại vào gốc. Khi điều kiện thanh toán đủ và đúng hạn hoàn thành, các bên điều chỉnh phần đã phân bổ vào lãi vượt số lãi phải trả sau miễn sang gốc, bảo đảm gốc được thanh toán đủ và tổng tiền đã nhận được ghi nhận đúng một lần.
Nếu hết hạn mà số tiền nhận đúng hạn chưa đủ theo đoạn trên, quyền miễn lãi chưa phát sinh; các khoản thực nhận giữ thứ tự phân bổ vào lãi đã chốt trước, vào gốc sau. Bên có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán số gốc và lãi đã chốt còn thiếu. Từ ngày liền sau hạn ưu đãi, lãi tiếp theo chỉ tính trên gốc thực tế còn chưa trả theo […] [căn cứ, mức lãi và quy ước ngày hợp lệ]. Các bên giữ nguyên thỏa thuận ngừng tính thêm lãi trong thời gian ưu đãi và theo dõi riêng lãi đã chốt.
Trong […] [số ngày làm việc] sau khi điều kiện hoàn thành hoặc hết hạn ưu đãi, hai bên lập bảng xác nhận từng khoản nhận, phần trả lãi, phần trả gốc, khoản điều chỉnh khi hưởng ưu đãi, số lãi được miễn và số dư. Phần tiền nhận vượt nghĩa vụ được hoàn trả hoặc xử lý theo văn bản thống nhất. Người có thẩm quyền của hai bên ký mọi thay đổi về hạn, điều kiện miễn hoặc thứ tự phân bổ.
Mẫu tự soạn — Phương án miễn lãi theo tỷ lệ và ưu tiên trả gốc
Thay các đoạn về miễn trọn gói và thu lãi trước bằng nội dung sau: tại hạn ưu đãi, số lãi được miễn bằng […] [mức miễn tối đa M] đồng nhân với tỷ lệ tổng tiền thực nhận đúng hạn trên […] [số tiền mục tiêu, bằng G cộng I trừ M] đồng, tối đa bằng M. Mỗi khoản thực nhận được phân bổ vào gốc trước, phần còn lại vào lãi. Hai bên ghi giảm khoản lãi đã chốt theo kết quả tính; tiền nhận sau hạn giữ thứ tự phân bổ này và không làm tăng mức miễn, trừ văn bản thống nhất khác.
Người sử dụng chọn mẫu miễn trọn gói hoặc phương án theo tỷ lệ, đồng thời sửa các đoạn về phân bổ để văn bản chỉ còn một cơ chế. Với mẫu trọn gói ở trên, thử hai mức nhận 1,04 tỷ đồng và 728 triệu đồng cho kết quả lần lượt là hết nợ và còn 372 triệu đồng gốc. Với phương án theo tỷ lệ, khoản 728 triệu đồng để lại 272 triệu đồng gốc và 58 triệu đồng lãi. Các số minh họa này dùng kiểm tra mẫu; người ký điền số liệu thực tế vào trường dữ liệu.
6. Hệ quả khi bên có quyền cố ý cản trở việc nhận tiền
Khoản 2 Điều 120 Bộ luật Dân sự quy định hệ quả của hành vi cố ý cản trở điều kiện. Nếu chủ nợ cố ý cung cấp sai tài khoản hoặc từ chối nhận tiền và hành vi đó làm cho điều kiện thanh toán không thể xảy ra, điều kiện được coi là đã xảy ra. Việc áp dụng hệ quả này đòi hỏi xác định hành vi cố ý cản trở trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ nợ và quan hệ nhân quả với việc điều kiện không thể xảy ra. Trường hợp bên trả tự chuyển sai tài khoản hoặc phát lệnh muộn được đánh giá theo trách nhiệm của bên trả và thỏa thuận thanh toán. [S03]
Để thực hiện thiện chí theo Điều 3 Bộ luật Dân sự và lưu chứng cứ khi phát sinh bất đồng về ưu đãi, bên trả cần giữ yêu cầu xác nhận tài khoản, lệnh chuyển, thông báo lỗi và phản hồi của bên nhận; bên nhận cần thông báo kịp thời thay đổi thông tin và tạo điều kiện thực hiện đúng thỏa thuận.
7. Kết luận
Để các bên thực hiện thống nhất, thỏa thuận miễn lãi có điều kiện cần xác định rõ số tiền phải trả, thời hạn thanh toán, thời điểm miễn lãi và cách phân bổ khoản tiền thực nhận để hai bên tính đúng nghĩa vụ còn lại. Trước khi ký, tài chính phải thử trường hợp trả đủ, trả thiếu và trả trễ; pháp chế kiểm tra thẩm quyền và điều kiện có hiệu lực. Sau hạn, hai bên nên chốt kết quả bằng một văn bản kèm sao kê, để việc thu hồi khoản còn lại dựa trên số liệu có thể kiểm chứng.
Mã biểu mẫu của bài: SP-K03-H05.
Nguồn pháp luật và tài liệu tra cứu
[S03] Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015; hiệu lực từ 01/01/2017. Toàn văn trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật

