Giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng

Xử lý mâu thuẫn giữa các điều khoản trọng tài trong hợp đồng xây dựng

Trong cùng một bộ hợp đồng, văn bản chính chọn trọng tài, điều kiện chung chọn Tòa án nơi có công trình, còn phụ lục lại ghi một phương thức khác. Khi tranh chấp xảy ra, sự thiếu thống nhất này buộc các bên tranh luận về thẩm quyền trước khi xem xét yêu cầu thanh toán, chất lượng hoặc tiến độ. Rà soát từng điều khoản và sửa ngay trước ngày ký giúp doanh nghiệp tránh chi phí phát sinh từ chính thỏa thuận giải quyết tranh chấp.

Việc rà soát phải bao quát các văn bản mà các bên đã chấp thuận và từng quan hệ phát sinh từ dự án. Người phụ trách cần xác định phụ lục có sửa điều khoản trọng tài hay chỉ bổ sung yêu cầu kỹ thuật; cam kết bảo lãnh có ràng buộc ngân hàng vào cùng phương thức giải quyết hay quy định riêng. Kết luận rà soát phải chỉ rõ ai chịu sự ràng buộc, tranh chấp nào thuộc phạm vi thỏa thuận và cơ quan nào có quyền giải quyết.

Ảnh minh họa công trình nhà nhiều tầng đang thi công với cần cẩu và giàn giáo

1. Phạm vi tranh chấp và điều kiện xác lập thỏa thuận trọng tài

Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010 xác định những tranh chấp thuộc thẩm quyền trọng tài; Điều 5 yêu cầu các bên có thỏa thuận trọng tài; Điều 16 quy định hình thức bằng văn bản và những trường hợp đáp ứng yêu cầu này. Từ các căn cứ đó, người rà soát phải xác định ai đã chấp thuận trọng tài, sự chấp thuận nằm trong văn bản nào và bao quát những yêu cầu nào. Ba nội dung này quyết định phạm vi kiểm tra các điều khoản còn lại. [1]

Thỏa thuận chỉ nói “tranh chấp về thanh toán” có phạm vi khác với thỏa thuận bao quát việc giao kết, thực hiện, chấm dứt và hiệu lực hợp đồng. Khi nhà thầu yêu cầu chi phí kéo dài còn chủ đầu tư đưa ra yêu cầu về chất lượng, một phạm vi hẹp làm nảy sinh tranh luận về phần yêu cầu thuộc thẩm quyền. Đối với hợp đồng xây dựng có nhiều loại nghĩa vụ, cách mô tả bao quát quan hệ hợp đồng thường giúp giảm rủi ro chia tách vụ việc.

Khoản 5 Điều 86 và khoản 7 Điều 95 Luật Xây dựng 2025 điều chỉnh phương thức giải quyết tranh chấp và việc áp dụng pháp luật chuyển tiếp đối với hợp đồng ký trước ngày 01/7/2026. Người rà soát vì vậy phải ghi nhận thời điểm giao kết để xác định pháp luật điều chỉnh hợp đồng. Đồng thời, hiệu lực của thỏa thuận trọng tài phải được xem xét theo Luật Trọng tài thương mại. Việc lựa chọn pháp luật cho hợp đồng và việc đánh giá thỏa thuận trọng tài là hai nội dung kiểm tra có căn cứ riêng. [2] [1]

2. Quan hệ giữa điều khoản trong hợp đồng và phụ lục

Điều 403 Bộ luật Dân sự 2015 quy định hiệu lực của phụ lục và hậu quả khi nội dung phụ lục trái với hợp đồng. Nếu các bên chấp nhận phụ lục có điều khoản trái với hợp đồng thì điều khoản của hợp đồng được coi là đã sửa đổi. Do đó, việc chỉ căn cứ vào tên “phụ lục kỹ thuật” để bỏ qua một điều khoản chọn Tòa án trong phụ lục sẽ dẫn tới thiếu sót. Người rà soát phải xem nội dung các bên thực sự chấp thuận, thẩm quyền của người ký và quan hệ giữa các văn bản. [3]

Thứ tự ưu tiên tài liệu giúp các bên giải quyết nội dung khác biệt trong bộ hợp đồng. Tuy nhiên, người rà soát còn phải xác định các bên có chấp thuận một sửa đổi bằng văn bản về sau hay chưa. Đối với hợp đồng thuộc phạm vi áp dụng của Luật Xây dựng 2025, khoản 1 Điều 84 quy định việc sửa đổi phải thực hiện trong thời gian có hiệu lực của hợp đồng và bằng văn bản. Do đó, điều khoản thứ tự ưu tiên nên đi kèm thủ tục riêng về sửa đổi phương thức giải quyết tranh chấp. [2]

Giả định hợp đồng chính chọn VIAC, điều kiện chung chọn Tòa án nơi có công trình, còn phụ lục sau cùng chỉ sửa tiến độ. Trước khi ký, các bên nên lập văn bản xác định điều khoản nào được thay thế và ghi đầy đủ cơ chế đã thống nhất để giải quyết nội dung tranh chấp. Văn bản phải có chữ ký của người có quyền đại diện của mỗi bên. Sự xác nhận trực tiếp này làm rõ ý chí lựa chọn cơ quan giải quyết mà một điều khoản ưu tiên tài liệu chung có thể chưa thể hiện hết.

3. Thẩm quyền của trọng tài và vai trò hỗ trợ, kiểm soát của Tòa án

Theo Điều 6 Luật Trọng tài thương mại, Tòa án phải từ chối thụ lý khi các bên có thỏa thuận trọng tài, trừ trường hợp thỏa thuận vô hiệu hoặc không thể thực hiện. Tuy nhiên, Luật vẫn giao Tòa án nhiệm vụ hỗ trợ và kiểm soát hoạt động trọng tài. Trong phạm vi đó, khoản 2 Điều 48 cho phép một bên yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà vẫn giữ nguyên quyền giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. [1]

Do đó, các bên có thể vừa lựa chọn trọng tài vừa ghi nhận quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Đối với việc phản đối phán quyết, các điều 68–71 quy định căn cứ và thủ tục hủy phán quyết; Tòa án thực hiện việc kiểm soát trong phạm vi luật định. Câu chữ cho phép Tòa án xét xử lại toàn bộ nội dung chỉ vì một bên phản đối sẽ làm sai lệch cách hiểu về tính chung thẩm tại khoản 5 Điều 4. [1]

Khi hồ sơ đồng thời có điều khoản chọn trọng tài và điều khoản chọn Tòa án, người đánh giá phải xác định nội dung thỏa thuận, văn bản sửa đổi và các thủ tục đã thực hiện. Kết luận về hiệu lực phải dựa trên Điều 18 Luật Trọng tài thương mại và việc giải thích ý chí các bên theo Điều 404 Bộ luật Dân sự. Ở giai đoạn soạn thảo, các bên nên thống nhất một cơ chế giải quyết nội dung tranh chấp và quy định riêng quyền yêu cầu Tòa án thực hiện những nhiệm vụ mà pháp luật giao. [1] [3]

4. Người ký, tổ chức trọng tài và ngôn ngữ tố tụng

Khoản 2 Điều 18 Luật Trọng tài thương mại xem việc người xác lập thỏa thuận thiếu thẩm quyền là một căn cứ vô hiệu. Điều 141 Bộ luật Dân sự xác định phạm vi đại diện theo điều lệ, ủy quyền, quyết định có thẩm quyền hoặc quy định pháp luật. Người soạn cần kiểm tra văn bản ủy quyền có bao gồm quyền giao kết hợp đồng và chấp thuận phương thức giải quyết tranh chấp hay chỉ cho phép thương lượng thương mại. [1] [3]

Việc các doanh nghiệp cùng tham gia một công trường chỉ phản ánh quan hệ thực hiện dự án; căn cứ ràng buộc từng doanh nghiệp vào trọng tài vẫn nằm ở sự chấp thuận hợp lệ của doanh nghiệp đó. Vì vậy, đối với liên danh, người ký thay các thành viên phải có quyền đại diện trong phạm vi thỏa thuận trọng tài. Đối với quan hệ thầu phụ, nhà thầu chính và nhà thầu phụ phải xác lập thỏa thuận điều chỉnh quan hệ giữa họ.

Tên tổ chức trọng tài phải được ghi thống nhất trong toàn bộ hồ sơ. Nếu chọn VIAC, các bên sử dụng tên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam và xác định bộ quy tắc tố tụng áp dụng. Việc kết hợp tên một trung tâm với quy tắc của tổ chức khác đòi hỏi các bên kiểm tra trước khả năng tổ chức giải quyết. Số trọng tài viên, địa điểm và ngôn ngữ cũng phải tuân theo Điều 10, Điều 11, Điều 39 Luật Trọng tài thương mại và quy tắc đã chọn. [4] [1]

Theo khoản 1 Điều 10 Luật Trọng tài thương mại, tranh chấp không có yếu tố nước ngoài sử dụng tiếng Việt trong tố tụng trọng tài, trừ trường hợp ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Bởi vậy, đối với tranh chấp thuộc nhóm phải sử dụng tiếng Việt, việc soạn hợp đồng bằng tiếng Anh hoặc song ngữ vẫn giữ nguyên yêu cầu về ngôn ngữ tố tụng. Khoản 2 Điều 10 cho phép các bên thỏa thuận ngôn ngữ khi tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; nếu thiếu thỏa thuận, Hội đồng trọng tài quyết định. Người soạn phải phân biệt ngôn ngữ của hợp đồng với ngôn ngữ giải quyết tranh chấp. [1]

5. Điều khoản giải quyết tranh chấp trong cam kết bảo lãnh ngân hàng

Giả định ngân hàng phát hành bảo lãnh thanh toán và cam kết bảo lãnh chọn Tòa án tại địa điểm khác với cơ chế VIAC của hợp đồng thi công. Hai điều khoản có thể cùng tồn tại vì chúng điều chỉnh những chủ thể và nghĩa vụ khác nhau. Trọng tâm rà soát là xác định tranh chấp nhà thầu đang dự kiến khởi kiện phát sinh từ nghĩa vụ thanh toán của chủ đầu tư hay từ cam kết trả tiền của ngân hàng.

Theo Điều 5 và Điều 16 Luật Trọng tài thương mại, thẩm quyền trọng tài phải dựa trên sự chấp thuận đối với quan hệ tranh chấp được đưa ra giải quyết. Vì thế, một điều khoản do chủ đầu tư và nhà thầu ký chỉ ràng buộc ngân hàng khi có căn cứ đại diện hoặc sự chấp thuận hợp lệ của ngân hàng. Để áp dụng cùng một cơ chế cho cả ba bên, văn bản có sự tham gia của ngân hàng phải xác định rõ phạm vi nghĩa vụ và thỏa thuận giải quyết tranh chấp. [1]

Đối với nhà thầu, việc chấp nhận hai cơ chế giải quyết khác nhau còn là một quyết định về chi phí và tiến độ thu hồi. Doanh nghiệp nên dự kiến khả năng phải xử lý yêu cầu theo hợp đồng thi công và yêu cầu bảo lãnh qua hai bộ hồ sơ. Đây là nội dung thương lượng trước khi nhận bảo lãnh, nhất là khi thời hạn xuất trình yêu cầu bảo lãnh ngắn hơn quá trình giải quyết tranh chấp chính.

Tài liệu trong tình huống giả định Nội dung đang có Cách xử lý trước khi ký
Hợp đồng thi công Chọn VIAC Giữ làm cơ chế giải quyết nội dung giữa chủ đầu tư và nhà thầu
Điều kiện chung đính kèm Chọn Tòa án nơi có công trình Thay thế rõ điều khoản xung đột bằng văn bản có đủ thẩm quyền
Cam kết bảo lãnh của ngân hàng Chọn Tòa án cho yêu cầu đối với ngân hàng Rà soát riêng; chỉ thống nhất sang trọng tài khi ngân hàng chấp thuận

6. Mẫu thỏa thuận lựa chọn trọng tài hoặc Tòa án

Phương án lựa chọn trọng tài. Mẫu dưới đây áp dụng cho tranh chấp không có yếu tố nước ngoài giữa các doanh nghiệp Việt Nam và giả định rằng các bên đều thuộc diện phải sử dụng tiếng Việt theo khoản 1 Điều 10 Luật Trọng tài thương mại. Các bên thỏa thuận số trọng tài viên và địa điểm giải quyết trong giới hạn pháp luật.

Các bên giao Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) giải quyết mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến việc giao kết, thực hiện, sửa đổi, chấm dứt và hiệu lực của Hợp đồng, theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm áp dụng tại thời điểm bắt đầu tố tụng. Hội đồng trọng tài gồm ba trọng tài viên; địa điểm trọng tài là Hà Nội, Việt Nam; ngôn ngữ trọng tài là tiếng Việt.

Điều khoản này thay thế quy định lựa chọn cơ quan giải quyết nội dung tranh chấp tại Điều […] [số điều] của Điều kiện chung và tại mục […] [số mục] của Phụ lục […] [số phụ lục]. Các bên chỉ sửa đổi sự lựa chọn này bằng văn bản chỉ rõ điều khoản bị sửa và có chữ ký của người có quyền đại diện. Quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ, kiểm soát tố tụng trọng tài và áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện theo pháp luật.

Phạm vi thỏa thuận trọng tài giữa các bên trong Hợp đồng được xác định độc lập với cam kết của ngân hàng, nhà thầu phụ và chủ thể khác. Sự tham gia của các chủ thể đó vào cùng vụ trọng tài phải có căn cứ thỏa thuận và đáp ứng quy tắc tố tụng áp dụng.

Phương án chọn Tòa án. Khi các bên thống nhất lựa chọn Tòa án để giải quyết nội dung, văn bản cần loại bỏ rõ thỏa thuận trọng tài cũ, đồng thời tôn trọng thẩm quyền mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định.

Các bên thống nhất giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến Hợp đồng tại Tòa án có thẩm quyền theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Kể từ ngày văn bản này có hiệu lực, thỏa thuận trọng tài giữa các bên tại Điều […] [số điều] của Hợp đồng và mục […] [số mục và phụ lục] của các phụ lục được thay thế bằng thỏa thuận này. Quy định về thẩm quyền theo loại việc, cấp Tòa án và lãnh thổ được áp dụng theo pháp luật tại thời điểm giải quyết vụ việc.

Các bên ghi nhận việc thay đổi phương thức giải quyết tranh chấp chỉ áp dụng trong phạm vi quan hệ và chủ thể ký văn bản này. Đối với vụ việc đã bắt đầu tố tụng, các bên thực hiện thủ tục theo pháp luật và quy tắc của cơ quan đang giải quyết, đồng thời thỏa thuận riêng về chi phí đã phát sinh.

Đối với hồ sơ mời thầu hoặc hợp đồng thuộc dự án đầu tư công, PPP, việc thay đổi điều khoản giải quyết tranh chấp còn phải tuân thủ thẩm quyền phê duyệt và giới hạn sửa đổi áp dụng cho dự án. Người có thẩm quyền quyết định sử dụng mẫu sau khi kiểm tra các yêu cầu đó. Các phương án câu chữ trên chỉ thể hiện cách ghi nhận thỏa thuận giữa các bên. [2]

Trước khi ký, bộ phận pháp chế đối chiếu hợp đồng, phụ lục và căn cứ đại diện của từng người ký, sau đó ghi rõ điều khoản được giữ, điều khoản được thay thế và phạm vi áp dụng. Kết quả phải giúp mỗi bên xác định đúng tổ chức giải quyết, quy tắc tố tụng và nghĩa vụ của mình. Đây là cơ sở hạn chế tranh luận về thẩm quyền khi phát sinh tranh chấp.

Bài viết liên quan

Thỏa thuận trình tự giải quyết tranh chấp trong hợp đồng xây dựng

Gửi thông báo tranh chấp bằng thư điện tử trong hợp đồng xây dựng

Nguồn pháp luật và tài liệu tham khảo

[1] Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12 ngày 17/6/2010. Hiệu lực từ 01/01/2011. Các quy định liên quan gồm thỏa thuận trọng tài, thời hiệu, chứng cứ, chi phí, hòa giải và biện pháp khẩn cấp tạm thời. Văn bản nguồn

[2] Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 ngày 10/12/2025. Hiệu lực chính từ 01/7/2026 theo Điều 94; việc lựa chọn pháp luật cho hợp đồng cũ theo khoản 7 Điều 95. Văn bản nguồn

[3] Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015. Hiệu lực từ 01/01/2017. Các quy định liên quan đến đại diện, nghĩa vụ, hợp đồng và thời hiệu. Văn bản nguồn

[4] Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), trang hướng dẫn điều khoản trọng tài. Nguồn xác định tên tổ chức và hướng dẫn tham khảo.